"Không bạo động, bạo động tất chết! Không trông người nước ngoài, trông người nước ngoài tất ngu! Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào, là "Chi Bằng Học".
![]() |
| Tư tưởng chủ đạo của nhà yêu nước Phan Chu Trinh (1872-1926) |
"Chi bằng học": tư tưởng chủ đạo của Phan Châu Trinh
Quan niệm dân tộc, dân chủ của Phan Châu Trinh thì chúng ta đều biết. Về mặt lý luận, ông đã có những tác phẩm về quân trị, dân trị, có Thư thất điếu nổi tiếng. Về mặt văn chương, ông có thơ chữ Hán (như Chí thành thông thánh) và nhiều bài thơ khác (cả chữ Hán, chữ Nôm), lại có tập Tỉnh quốc hồn ca và truyện thơ Giai nhân kỳ ngộ. Bấy nhiêu tác phẩm đã cho ta rõ về tư tưởng Phan Châu Trinh hồi đầu thế kỷ XX. Trong con mắt của các nhà chí sĩ đương thời, ông được xem như là đại diện tiêu biểu nhất cho khuynh hướng dân chủ Việt nam. Ông tự ví mình với nhà hoạt động chính trị ở Ý (Mazzini), nên mới lấy cái biệt hiệu là Hy Mã (theo gương Mã Chí Nê). Phan Bội Châu thừa nhận ở ông là:"Tài Mã Nê đang ra sức hô hào" và "Lư Thoa, Mạnh Đức so sánh người xưa". Với Phan Châu Trinh, đất nước Việt Nam sẽ được hứa hẹn là một ngày nào đó: "Cửa dân chủ treo đèn thêm sáng chói".
Đó là nhìn chung Phan Châu Trinh trong cuộc đời và sự nghiệp của ông. Đi sâu vào tư tưởng và học thuật, ông còn được đánh giá, được phát hiện ở nhiều lĩnh vực. Sau khi ông mất, hàng năm trên tờ Tiếng Dân, Huỳnh Thúc Kháng đã đều đặn làm lễ tưởng niệm ngày 24-3, đăng ảnh ông rất trang trọng, gọi đó là kỷ niệm ngày mất cụ Tây Hồ. Số báo nào, ông Huỳnh cũng trích một câu nói của Phan Châu Trinh, xem như một lời danh ngôn. Nguyên văn chữ Hán, dịch ra thành tiếng Việt (báo Tiếng Dân số 613 năm 1933, trong toàn bài nhan đề là Hiện trạng Vấn đề): Vậy xin cùng nói lời chính cáo cùng người nước ta rằng: "Không bạo động, bạo động tất chết! Không trông người nước ngoài, trông người nước ngoài tất ngu! Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào, là "Chi Bằng Học".
Có thể nói là Huỳnh Thúc Kháng đã chọn đúng một câu nói của Phan Châu Trinh, xứng đáng là một câu danh ngôn. Chi Bằng Học (chữ Hán là Bất như học) là quan niệm cơ bản của tư tưởng Phan Châu Trinh, là lời gọi thống thiết của Phan Châu Trinh gửi đồng bào Việt Nam. Không phải chỉ có giá trị đương thời, mà còn đến hôm nay vẫn xứng đáng là một danh ngôn, luôn luôn phát huy tác dụng.
Câu danh ngôn này được phát biểu vào năm 1907, trên tờ Đăng Cổ Tùng Báo (Huỳnh Thúc Kháng nhớ toàn văn bài báo, nhưng lại không ghi cho biết số báo mấy, ra ngày nào). Lúc này phong trào học mới đang sôi nổi, trở thành phong trào duy tân khởi phát từ Quảng Nam, do các nhà nho tiến bộ chủ trì. Ở Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục phát động phong trào này. Các nhà chí sĩ khắp ba kỳ đều nhất tề hưởng ứng. Đã có một số tác phẩm lý luận, chính trị nêu rõ đường lối của cái học mới này: đó là bản Văn minh tân học sách. Phan Châu Trinh không có bài viết nào đề cập đến cái sách lược mới này, nhưng ông cũng là người được Đông Kinh Nghĩa Thục mời đến nói chuyện, giảng bài. Có thể nói là khác với hầu hết chí sĩ duy tân, – (có thể có một số người mà chúng ta chưa có tài liệu để tham khảo kỹ) là ông rất kiên trì quan điểm "Chi Bằng Học" trong suốt cuộc đời mình. Đã đến lượt, chúng ta có thể thu thập trong toàn bộ tác phẩm của ông, để hệ thống hóa lại quan niệm "Chi bằng học" của Phan Châu Trinh cho trọn vẹn.
1. Trước hết, nói đến sự học, Phan Châu Trinh đã lên án cái học chữ Hán ở nước ta từ trước là cái học "ù ù cạc cạc", "khiến cho con người tối tăm mù mịt, mềm yếu ươn hèn" (1). Học chữ Nho đã thế, sau này học theo chữ Pháp nữa, cũng chẳng ích gì cho tầng lớp trẻ Việt Nam:
Học Tây đã lam nham như thế
Học Tàu còn ai kể vào đâu
Thừa ra quốc ngữ mấy câu
Trông gì mà đặng cái đầu thiếu niên?
(Tỉnh quốc hồn ca, câu 249-252)
Bản chất cái học là như thế, nhưng các nhà cầm quyền (bọn thực dân và bọn vua quan phong kiến) còn tìm cách ngăn cản, hạn chế việc học. Do đó cái học ở Việt nam là cái học chẳng ra gì, thua kém toàn thế giới:
Thử xem khắp cõi dinh hoàn
Hai mươi thế kỷ, ai còn như ta
(Sách trên)
2. Về mục đích sự học, Phan Châu Trinh cũng xuất phát từ quan điểm dân chủ của ông. Cái gốc trước nhất là xét về chế độ chính trị, chế độ xã hội, ông nêu rõ chính cương (ông đã dùng hai chữ này) của mình:
Quyền vua đổi lại quyền dân
Chánh cang (chánh cương) trước phải vài phần khai minh
(Tỉnh quốc hồn ca, câu 491-492)
"Khai Minh" là nói cho rõ ra. Rõ ở đây là rõ cái tinh thần dân chủ, tinh thần tự do. Phan Châu Trinh quan niệm cái học phải đi theo tinh thần của tự do dân chủ. Ở bài Hiện trạng vấn đề nói trên, ông đã đưa ra một hình ảnh: Ông mường tượng thấy mình đứng trên lầu cao mấy mươi tầng, thấy một vị thần mắt đưa tay ngoắt, trông ta mà mỉm cười, ấy là vị thần tự do vậy".
Có được tinh thần như vậy, thì mới biết chọn con đường mà học:
"Con nhà trông thấy đêm ngày
Nguồn trong, dòng sạch xưa nay lẽ thường,
Lớn lên học phải lựa trường
Bạn thầy, nghĩa lý, văn chương, trau dồi"
(Bài ca dạy con, câu 21-24)
Từ mục đích sâu xa ấy, đi tới cái mục đích gần gũi, là phải "tự lực khai hóa", phải sửa lại những tục xấu của đất nước mình"
Hiền nhân, quân tử những người
Đứng lên mà sửa tục đời cho chăng?
(Tỉnh quốc hồn ca, câu 255-256)
Muốn được như vậy, chủ yếu là phải biết học thế giới, học sự tiến bộ của các dân tộc trên hoàn cầu:
Bây giờ phải tính làm sao
Rủ nhau đi học mọi điều văn minh
(Sách trên, câu 223-224)
Tất cả các nước trên thế giới này đều có những cái hay riêng cho ta học tập. Ta học cả Á, Âu, Mỹ và nhất là học những nước ở chung quanh ta"
Kìa xem trong cõi Á Đông
Trung Hoa, Nhật Bản cũng dòng giống ta.
Nhìn ngoái lại Xiêm La gần đấy
Phi Liệp Bình chẳng mấy nhiêu xa (tức Philippin)
(Tỉnh quốc hồn ca II, câu 79-82)
Quan niệm Phan Châu Trinh đúng là một quan niệm mở.
3. Đi vào nội dung cụ thể, Phan Châu Trinh không có điều kiện đưa ra những chương trình học tập, nhưng ở một vài văn kiện, ta cũng thấy ông nêu được các nhiệm vụ rõ ràng, mà có phần chi tiết nữa. Trong Bức thư gửi Toàn quyền Đông Dương (bản dịch của Ngô Đức Kế in trên báo Tân Dân đã nói trên), ông nêu rõ một loạt 7 vấn đề, yêu cầu người Pháp phải nên thi hành thành chính sách, thì mới nâng cao được trình độ quốc dân, mà khiến cho người dân tin tưởng để vui lòng hợp tác. Đó là các vấn đề:
a. Đổi pháp luật - Dạy lớp sư phạm
b. Bỏ khoa cử - Học công thương
c. Mở trường học - Học mỹ nghệ…
d. Đặt tòa tu thư
Có thể không thể có một chương trình nào đầy đủ và chi tiết hơn. So với những gì đã được trình bày trong Văn minh tân học sách, so với chương trình giáo dục (qua các sách vở được công bố ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục), Phan Châu Trinh không bổ sung gì hơn, nhưng phương hướng và đề cương của ông là cụ thể. Cần lưu ý một điều nữa là, ông đã vạch những điều mà chính quyền thực dân Pháp có thể làm được – (mặc dầu chúng không bao giờ làm là lẽ tất nhiên).
*
* *
Bấy nhiêu điều lượm lặt và hệ thống hóa lại, chắc chưa thể thâu tóm hết quan niệm "bất như học" (Chi bằng học) của Phan Châu Trinh. Nhưng có lẽ cũng không thiếu sót là bao nhiêu. Và một phần nào cũng giúp cho ta thấy được quan niệm học của ông. Là một trong những nhà lãnh đạo tiên phong của phong trào duy tân, ông không có sự cách biệt nào với Văn minh tân học sách. Những người đồng chí gần gũi với ông như Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng đã chia sẻ với ông về quan niệm dạy và học. Phan Bội Châu tuy khác ông về chủ trương, biện pháp cứu nước, nhưng cũng là "tương phản nhi tương thành".
Những điều ông Phan tỏ ra bất bình đối với bọn thống trị, bọn cầm quyền - (riêng về mặt khai hóa văn minh) – với cách nhìn của Phan Châu Trinh vẫn là nhất trí. Những ngày ở Nhật, gặp gỡ các du học sinh, Phan Châu Trinh đã tỏ ra đồng tình với Phan Bội Châu về sự tiếp thu cái mới. Chính vì vậy mà Phan Châu Trinh được cả nước hoan nghênh và cùng với Phan Bội Châu trở thành thần tượng của quốc dân đầu thế kỷ 20. Cái gốc trong quan niệm về sự học của Phan Châu Trinh, vẫn là vì tư tưởng dân tộc và dân chủ. Ông tha thiết với vận mệnh nước nhà, có sự bất bình thực sự với tình trạng lạc hậu của dân tộc. Tha thiết đến mức tình cảm của ông biến thành sự "giận thảm hờn sâu" (Giai nhân kỳ ngộ: câu 4867, 4868). Ông đã vì tôn trọng nhân dân, đòi hỏi cho dân có quyền, nghe theo dân mà đặt ra yêu cầu học tập "Quốc tương hưng tắc chính chư dân" (Tỉnh quốc hồn ca)
Có nghĩa là: Đất nước muốn hưng vượng thì phải nghe ở dân. Dân ta lúc này (đầu thế kỷ XX) đang cần một cái học thiết thực đảm bảo cho sự tồn vong của nòi giống. Quan niệm học ở Phan Châu Trinh cũng là quan niệm, là đòi hỏi của dân. Không thấy điều ấy, thì không thấy được cái vĩ đại và nét đại diện cho dân tộc ở Phan Châu Trinh được. Chính ông cũng nói:
Dân ta là thánh là thần
Bền gan chắc dạ, quỷ thần cũng kiêng
(Bài trên, câu 371, 372)
1) Thư gửi toàn quyền Đông Dương (chữ Hán, bản dịch của Ngô Đức Kế)
Nguồn: Kỷ yếu Tọa đàm 130 năm ngày sinh Phan Châu Trinh - Tam Kỳ - 2002
KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY MẤT CỦA PHAN CHÂU TRINH (24/3/1926-24/3/2026)
HÔM NAY, KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY MẤT CỦA PHAN CHÂU TRINH (24/3/1926-24/3/2026)
NGÀY 24/3/2026, CHÚNG TA CÓ MỘT KỶ NIỆM LỚN: 100 NĂM NGÀY MẤT CỦA PHAN CHÂU TRINH VÀ MẤY NGÀY SAU (24/03) LÀ ĐÁM TANG VĨ ĐẠI CỦA ÔNG MÀ NGUYỄN ÁI QUỐC, TRONG BÁO CÁO GỬI QUỐC TẾ CỘNG SẢN HỒI ĐÓ ĐÃ VIẾT: "TRONG LỊCH SỬ NGƯỜI AN NAM CHƯA HỀ ĐƯỢC CHỨNG KIẾN MỘT SỰ KIỆN TO LỚN NHƯ VẬY BAO GIỜ…"
Quả thật là một đám tang vĩ đại, theo các con số đáng tin cậy 100.000 người đã đi theo linh cữu ông, kéo dài trên 2 cây số trong khi năm 1926, dân số cả Sài Gòn và Chợ Lớn cộng lại là 345.000 người. Hơn một phần tư người Sài Gòn - Chợ Lớn đã long trọng tiễn đưa nhà ái quốc yêu quý của mình đến nơi an nghỉ cuối cùng. Rõ ràng không chỉ là một đám tang, mà là một cuộc biểu dương lực lượng hùng vĩ của quần chúng yêu nước, báo hiệu những chuyển động xã hội sẽ không còn gì ngăn cản được. Lại còn thêm một động thái khác thường nữa: hầu hết các tỉnh trong nước đều cử người về Sài Gòn dự đám tang, sau đó trở về địa phương mình tổ chức lễ truy điệu: thật sự đã diễn ra một quốc tang, trong toàn quốc, mà lại ngay trong lòng chế độ thực dân vô cùng khắc nghiệt và tàn bạo. Từ đám tang Phan Châu Trinh, có thể nói cả một lớp người mới, được chấn động bởi sự kiện hùng tráng đó, đã lên đường, một thế hệ cách mạng mới đã bước vào cuộc đấu tranh.
Con người mà cái chết đã gây nên chấn động lớn đến thế là ai vậy? Ông đã đi theo những con đường nào, đã để lại những gì cho dân tộc mình để có thể tạo nên một cuộc động đất dữ dội đến vậy - như đánh giá của Hoàng Xuân Hãn mấy mươi năm sau đó: "Một Big Bang của lòng yêu nước".
Huỳnh Thúc Kháng, một trong những người đồng chí gần gũi nhất của Phan Châu Trinh đã viết một câu thoạt nghe rất lạ: Phan Châu Trinh là nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam. Trong khi, rất cần chú ý, ông không dành sự đánh giá đó cho một nhân vật kiệt xuất cùng thời, cũng rất gần gũi, thân thiết với ông và được ông hết sức kính trọng, là Phan Bội Châu. Theo ông, Phan Bội Châu là nhà ái quốc rất lớn, có lòng yêu nước thống thiết bậc nhất. Nhưng là "nhà cách mạng" thì ắt phải có chỗ khác, mà là khác căn bản: nhà cách mạng không chỉ yêu nước, chống ngoại xâm mà còn là người có chủ trương làm thay đổi xã hội. Phan Châu Trinh chính là một con người như vậy, và đấy là chỗ phân biệt cơ bản giữa ông với tất cả những bộ óc lớn nhất của dân tộc cùng thời với ông.
Ấy là vào đầu thế kỷ trước, sau những thất bại đau đớn của tất cả các phong trào đấu tranh, các cuộc khởi nghĩa anh hùng mà bi tráng, vấn đề tìm được một con đường cứu nước đúng đắn đang được đặt ra vô cùng bức bách, giằng xé tâm can mọi con người Việt Nam. Như mọi sĩ phu đương thời, Phan Châu Trinh cũng đứng trước câu hỏi nóng cháy đó. Ông đã trả lời câu hỏi sống còn ấy như thế nào? Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn đã có một phân tích rất sâu sắc về Phan Châu Trinh. Ông viết: "Sau khi phong trào Cần Vương bị đàn áp tan rã hoàn toàn, Phan Châu Trinh đã đi sâu nghiên cứu những nhược điểm cơ bản về văn hóa xã hội Việt Nam. Cụ thấy rõ nguyên nhân sâu xa đã đưa đến mất nước là sự thua kém của xã hội ta so với phương Tây. Phan Châu Trinh đã đưa ra một đường lối mới để tìm lối thoát cứu nước...". Phân tích này hết sức quan trọng.
Như vậy, điểm độc đáo, đặc sắc đầu tiên của Phan Châu Trinh là ở ngay trong chỗ phương hướng đi tìm nguyên nhân mất nước: Khác với tất cả những bộ óc lớn nhất của dân tộc lúc bấy giờ, ông đi tìm nguyên nhân mất nước, nguy cơ dân tộc, không phải ở đâu khác mà là trong văn hóa, từ văn hóa. Có thể nói không sợ sai: ông trước hết là một nhà văn hóa lớn, một con người coi văn hóa là nền tảng cơ bản nhất của xã hội, của số phận dân tộc. Đất nước mạnh hay yếu dân tộc thịnh hay suy trước hết là ở trong văn hóa, do văn hóa. Chỉ riêng điều này thôi, ông đã vượt lên tất cả những người cùng thời.
Ông là nhà cách mạng xã hội, có tư tưởng dân chủ đầu tiên, là nhà văn hóa, một nhân cách lớn.
Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ. Có thể xem ông là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ.
Đặc biệt hơn nữa, ông chọn con đường dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động. Ông coi dân chủ cấp bách hơn độc lập và coi việc dùng luật pháp, cai trị quy củ có thể quét sạch hủ bại phong kiến.
Với tinh thần yêu nước nồng nàn, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian khó và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ, noi theo ngày hôm nay...
Điểm đặc sắc lớn thứ hai: Là người yêu nước chân chính, ông không hề mị dân, không chỉ một mực nhắm mắt ca ngợi dân tộc mình, mù quáng chửi bới ngoại bang bất kể mọi thứ, ông không tự lừa bịp mình và lừa bịp đồng bào mình bằng những tự hào hão. Yêu nước, yêu đồng bào mình vô cùng nên ông dám nhìn thẳng vào những nhược điểm, mà là những nhược điểm cơ bản của dân tộc, những căn bệnh trầm kha hủy hoại đất nước, một cái nhìn đòi hỏi một sự trung thực và một lòng dũng cảm rất lớn. ông dám lớn tiếng nói: Dân tộc ta đã thua vì dân tộc ta quả đã quá kém cỏi, mà là kém cỏi ở tận gốc, ở văn hóa, ở những căn bệnh cơ bản về văn hóa.
Và thứ ba: Nhược điểm cơ bản so với ai? Ông nói rõ: So với phương Tây. Tức là, nói chính xác và theo cách nói ngày nay, ông là người đầu tiên, trong thời của ông, nhận ra một cách rõ ràng, toàn diện, có hệ thống cuộc toàn cầu hóa. Cuộc toàn cầu hóa lần thừ nhất đang diễn ra mà cả nước ta u mê không hề biết, cứ nghĩ và hành xử như suốt mấy nghìn năm trước, khi "thế giới" đối với chúng ta chỉ gồm có "thiên triều Trung Hoa" với các chư hầu chung quanh. Ông nhận ra thời đại đã khác. Suốt mấy nghìn năm trước, rất nhiều lần chúng ta đã phải đối mặt với đối thủ của mình trong một thế chênh lệch lực lượng hết sức bất lợi, nhưng dẫu sao giữa ta với họ vẫn là cùng một thời đại lịch sử, đấy đều là những cuộc xâm lược và chống xâm lược trong nội bộ chế độ phong kiến phương Đông. Lần này khác hẳn. Đối thủ của chúng ta là của một thế giới đã mở rộng ra mênh mông, đã toàn cầu hóa, và trong cuộc toàn cầu hóa ấy, ta chậm, thấp hơn họ một thời đại. Thất bại như vậy là tất yếu.
Vậy con đường thoát duy nhất là phải ra sức rút ngắn khoảng cách về thời đại đó, nâng dân tộc mình lên ngang tầm thời đại với đối thủ của mình, chỉ trên cơ sở đó mới có thể giải quyết mọi vấn đề và bằng những phương thức thích hợp tùy hoàn cảnh cụ thể.
Như vậy, chúng ta thấy, khác và vượt lên rất xa những người cùng thời, Phan Châu Trinh không chỉ đặt vấn đề giải phóng dân tộc, ông đặt vấn đề xa hơn và căn bản hơn: phát triển dân tộc, trong một thời đại đã hoàn toàn thay đổi. Suốt cuộc đời ông, Phan Châu Trinh đã cống hiến tất cả cho con đường ông đinh ninh là duy nhất đúng đó. Là một người Quảng Nam hết sức Quảng Nam, ông rất "ngang bướng" vì chân lý ông đã tin, quyết đeo đuổi nó đến cùng. Ông khăng khăng tuyên bố: "Tôi xin nói thực với các anh, tôi đã bỏ 2/3 đời tôi để tìm lấy thuốc mà chữa trị cho nước nhà. Thông minh tôi tuy kém, tài trí tôi tuy hèn, nhưng trong buổi giao thời này, tôi có thể nói rằng: cái trách nhiệm nòi giống của dân tộc Việt Nam, tôi không nhường cho ai cả".
Trên cơ sở nhận thức rõ ràng và quyết liệt đó, ông cùng Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, cái "Bộ ba Quảng Nam" nổi tiếng, phát động phong trào Duy tân sôi nổi. Đến nay nhìn lại, có điều rất lạ: Phong trào ấy không hề có chủ trương và chuẩn bị khởi nghĩa... Mà là một cuộc đại cải cách giáo dục, được tiến hành đầu tiên ở Quảng Nam (60 trường đã được mở ra trong một thời gian rất ngắn, chủ trương một nền giáo dục hoàn toàn mới) rồi loang rộng ra khắp Trung Kỳ (trong khi ở Hà Nội có Đông Kinh Nghĩa Thục, mà Phan Châu Trinh cũng là một trong những người tham gia sáng lập). Phan Châu Trinh là người có lòng tin khổng lồ vào sức mạnh của tri thức. Ông tin rằng tri thức được gieo rắc vào quần chúng thì sẽ có thể làm lay trời chuyển đất. Quả không sai: chỉ sau ba vui năm vận động Duy Tân, đã bùng nổ ra cuộc Trung Kỳ dân biến, cuộc nổi dậy lớn nhất của quần chúng, một trong những báo hiệu sớm nhất của cách mạng Tháng Tám về sau.
![]() |
| Quang cảnh Hội thảo cấp Quốc gia 100 năm ngày mất của Phan Châu Trinh, do Viện Phan Châu Trinh phối hợp trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn (Đại học Quóc gia TP Hồ Chí Minh) tổ chức. |
Theo nhà văn NGUYÊN NGỌC


